Tổng quan về phòng, chống tham nhũng

Thứ tư, 23/06/2021, 15:07 GMT+7

1.KHÁI QUÁT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG (PCTN) VÀ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN

1.1. Tham nhũng là gì?

  • Theo luật PCTN năm 2018, tham nhũng được định nghĩa như sau: “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi [1]..”

1.2. Người có chức vụ quyền hạn là ai?

  • “Người có chức vụ, quyền hạn[2]  là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm:
  • Cán bộ, công chức, viên chức;
  • Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
  • Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
  • Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức;
  • Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó”.

1.3. Các hành vi tham nhũng[3]

  • Tham ô tài sản;
  • Nhận hối lộ;
  • Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
  • Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi;
  • Giả mạo trong công tác vì vụ lợi;
  • Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi;
  • Nhũng nhiễu vì vụ lợi;
  • Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi;
  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.

1.4. Các hành vi bị nghiêm cấm trong PCTN[4]

  • Các hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật PCTN.
  • Đe dọa, trả thù, trù dập, tiết lộ thông tin về người phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng.
  • Lợi dụng việc phản ánh, báo cáo, tố cáo, tố giác, báo tin, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng để vu khống cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khác.
  • Bao che hành vi tham nhũng; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc phát hiện, xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN.

2. NGUYÊN NHÂN VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA THAM NHŨNG

2.1. Nguyên nhân của tham nhũng

  1. Hạn chế trong chính sách, pháp luật
  • Việc thực thi các chính sách phát triển kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội của Đảng và Nhà nước vẫn còn hạn chế. Bên cạnh đó, chính sách tiền lương không đảm bảo đời sống đã làm một số cán bộ, công chức có hành vi sách nhiễu, gây khó khăn khi thực thi nhiệm vụ để đòi hối lộ.
  • Hệ thống pháp luật nước ta vẫn chưa đầy đủ, đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội, tạo kẽ hở cho tham nhũng gia tăng.
  1. Hạn chế trong quản lí, điều hành nền kinh tế và trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội
  • Cơ chế quản lí chưa theo kịp với trình độ phát triển của nền kinh tế nên đã tạo ra những sơ hở, bất cập.
  • Các cải cách hành chính vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế - xã hội.
  1. Hạn chế trong việc phát hiện và xử lí tham nhũng
  • Chưa có cơ chế khuyến khích có hiệu quả việc tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, đặc biệt là cơ chế bảo vệ những người tố cáo hành vi tham nhũng.
  • Hiện nay hoạt động của các cơ quan phát hiện tham nhũng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Tham nhũng chủ yếu được phát hiện thông việc sử dụng các công cụ thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán.
  • Công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng vẫn còn hạn chế.
  • Truyền thông, báo chí nước ta hiện mới chỉ tập trung thực hiện nhiệm vụ giám sát và đưa tin về hoạt động PCTN, ít thực hiện việc điều tra về các vụ việc, các hành vi và các cá nhân tham nhũng.
  • Trong hoạt động chống tham nhũng, nhiều cơ quan, tổ chức chưa nhận thức đúng tính chất và tầm quan trọng của hoạt động PCTN.
  1. Hạn chế trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về tham nhũng
  • Hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về PCTN ở nhiều nơi mới chỉ được thực hiện trong nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị, chưa được tiến hành sâu rộng đến mọi tầng lớp nhân dân.
  • Hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục PCTN khá đơn điệu, chủ yếu thực hiện bằng hình thức báo cáo viên phổ biến, giải thích cho người nghe.
  • Nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về PCTN chưa được biên soạn phù hợp với các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội.

2.2. Ảnh hưởng của tham nhũng[5]

  1. Về chính trị
  • Suy giảm sự nghiêm minh của pháp luật.
  • Việc xây dựng đội ngũ lãnh đạo có trách nhiệm trong hệ thống chính trị sẽ khó khăn hơn.
  • Các cơ quan, đơn vị, tổ chức nhà nước sẽ mất dần kỷ cương nếu họ lạm dụng quyền lực vì mục đích tư lợi cá nhân.
  • Lòng tin của người dân vào hệ thống chính trị và sự lãnh đạo đất nước của các cấp chính quyền bị suy giảm.
  1. Về văn hóa – xã hội
  • Gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống của người dân thể hiện qua việc một số loại hàng hoá, dịch vụ công được cung cấp ở mức trung bình hoặc kém.
  • Người dân phải trả phí cho các dịch vụ lẽ ra phải được miễn phí hoặc phải mất các chi phí không chính thức.
    • Xâm phạm, thậm chí làm thay đổi, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội; tha hóa đội ngũ cán bộ, công chức.
  1. Về kinh tế
    • Gây thiệt hại, thất thoát tài sản của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân.
    • Tiền, tài sản của nhà nước bị điều chuyển đến các dự án, công trình làm giàu cho các cá nhân thay vì các dự án làm lợi cho cộng đồng như trường học, bệnh viện, đường xá.
    • Làm tăng sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trên thị trường; làm giảm lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài.

3. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VỀ PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG[6]

3.1. Quan điểm của Đảng về PCTN

  • Đảng lãnh đạo chặt chẽ công tác PCTN, lãng phí; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân; thực hiện đồng bộ các biện pháp chính trị, tư tưởng, tổ chức hành chính, kinh tế, hình sự.
  • PCTN, lãng phí phải phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, củng cố hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh.
  • Vừa tích cực, chủ động phòng ngừa vừa kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, trong đó phòng ngừa là chính. Gắn PCTN, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy dân chủ, thực hành tiết kiệm, chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan liêu.
  • PCTN, lãng phí là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài; phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực và có trọng tâm, trọng điểm.
  • Kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chú trọng tổng kết thực tiễn và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài.

 3.2. Chủ trương, giải pháp của Đảng về PCTN

  • Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của đảng viên, cán bộ, công chức và nhân dân về công tác PCTN, lãng phí.
  • Bảo đảm công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị.
  • Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về quản lý kinh tế, xã hội.
  • Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử hành vi tham nhũng.
  • Thực hiện tốt công tác truyền thống về PCTN, lãng phí.

4. QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG[7]

  • Người lao động có quyền phát hiện, phản ánh, tố cáo, tố giác, báo tin về hành vi tham nhũng và được bảo vệ, khen thưởng theo quy định của pháp luật; có quyền kiến nghị với cơ quan nhà nước hoàn thiện pháp luật về PCTN và giám sát việc thực hiện pháp luật về PCTN.
  • Người lao động có nghĩa vụ hợp tác, giúp đỡ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong PCTN.
 

[1] Khoản 1 Điều 3 Luật PCTN.

[2] Khoản 2 Điều 3 Luật PCTN

[3] Khoản 1 Điều 2 Luật PCTN.

[4] Điều 8 Luật PCTN.

[5] Sổ tay ALAC, 2016 – Tổ chức Minh bạch Quốc tế.

[6] Mục I.2 và Mục II Nghị quyết 04/NQ-TW

[7] Điều 5 Luật PCTN.